Ung thư cổ tử cung là bệnh rất hay gặp, trên thế giới là loại ung thư phổ biến thứ 3 ở phụ nữ đặc biệt hay gặp ở những nước đang phát triển. Thống kê trên nhiều nghiên cứu ở các khu vực cho thấy hơn 96,1 % các trường hợp ung thư cổ tử cung có sự liên quan đến HPV.1. HPV là gì?HPV viết tắt của Human Papilloma Virus là một loại virus DNA không có vỏ bọc cùng nhóm với adenovirus hay parvovirus. Có nhiều loại HPV khác nhau, những loại virus này có thể gây ra những vấn đề về sức khỏe như
mụn sinh dục và ung thư.
2. HPV lây lan như thế nào?Có hơn 200 type HPV, trong đó có hơn 40 type lây qua đường tình dục. Quan hệ tình dục qua đường miệng, âm đạo hoặc hậu môn với người bị nhiễm virus có thể làm bạn bị
nhiễm HPV. Khi quan hệ với người nhiễm virus HPV, bạn khả năng bị lây nhiễm cao ngay cả khi người bệnh không có dấu hiệu hay triệu chứng gì.
HPV lây truyền qua đường tình dục có tỉ lệ cao nhất ở phụ nữ trong độ tuổi 20 đến 24 và sau đó giảm dần. Có khoảng 20% đến 30% đàn ông và phụ nữ trẻ nhiễm nhiều virus HPV.

Virus HPV (Human Papilloma Virus) có nhiều type gây bệnh khác nhau
3. Nhiễm HPV ảnh hưởng như thế nào đến sức khỏe?Phần lớn những người nhiễm HPV đều tự khỏi và không gây ra bất cứ vấn đề gì về sức khỏe. Trung bình, 50% các ca nhiễm HPV sẽ tự khỏi trong vòng 8 tháng và 90% tự khỏi trong vòng 2 năm. Thời gian tự khỏi khi nhiễm
virus HPV nguy cơ cao kéo dài hơn thời gian nhiễm HPV nguy cơ thấp.
Khi không tự khỏi thì nó có thể gây ra những vấn đề về sức khỏe như mụn cơm và ung thư.
4. HPV và ung thư cổ tử cungNhiễm HPV có thể gây nên nhiều bệnh ung thư như:
ung thư âm hộ,
âm đạo,
dương vật,
hậu môn,
vùng miệng họng, đặc biệt là
ung thư cổ tử cung.
Nhiễm một hoặc nhiều type vi rút gây u nhú ở người (Human Papillomavirus -
HPV) nguy cơ cao đã được khẳng định là nguyên nhân tiên phát của UTCTC. HPV là
tác nhân truyền qua đường tình dục. Cho đến nay đã phát hiện được khoảng 200 type
HPV, trong đó có hơn 30 type thường lây lan qua quan hệ tình dục. Người ta chia HPV
sinh dục thành hai nhóm: nhóm nguy cơ thấp (thường gặp nhất là các type 6 và 11) gây
nên sùi mào gà sinh dục và nhóm nguy cơ cao (khoảng 16 type), gây ra các tổn thương
tân sinh trong biểu mô cổ tử cung và/hoặc ung thư cổ tử cung, âm đạo, hậu môn, dương
vật, thanh quản. . .
Có 8 type sinh ung thư thường gặp nhất là 16, 18, 45, 33, 51, 58, 31, 52 và 35, chịu
trách nhiệm cho khoảng 96, 19% các ung thư cổ tử cung. Cơ quan nghiên cứu ung thư
quốc tế (IARC) của Tổ chức Y tế thế giới phân chia các type HPV sinh ung thư thành 4
nhóm như sau:
- Nhóm 1: HPV 16, là nguyên nhân của khoảng 60% ung thư tế bào vảy CTC.
- Nhóm 2: HPV 18, 45, lần lượt là nguyên nhân của 15% và 5% ung thư tế bào vảy CTC.
- Nhóm 3: các type nằm gần HPV 16 trong cây phả hệ, bao gồm HPV 33, 31, 52,
58 và 35, tính chung gây ra khoảng 15% ung thư tế bào vảy CTC.
- Nhóm 4: nguy cơ thấp hơn, bao gồm HPV 39, 51, 59, 56 và 68, tính chung gây
ra khoảng 5% ung thư tế bào vảy CTC.
Khi một người nhiễm HPV không tự khỏi sẽ tiến triển thành ung thư cổ tử cung. Ung thư cổ tử cung có thời gian phát triển dài, trung bình có khoảng từ 10 đến 15 năm tiến triển từ loạn sản đến ung thư. Đây là khoảng thời gian thuận lợi cho việc
tầm soát ung thư cổ tử cung, giúp phát hiện sớm và điều trị những tổn thương loạn sản cũng như ung thư giai đoạn sớm.
Các yêu tố nguy cơ nhiễm HPV :
+ Quan hệ tình dục sớm,
+ Quan hệ tình dục với nhiều người,
+ Sinh nhiều con,
+ Vệ sinh sinh dục không đúng cách,
+ Viêm cổ tử cung mạn tính, nhiễm khuẩn LTQĐTD,
+ Điều kiện dinh dưỡng, kinh tế xã hội thấp,
+ Hút thuốc lá, đái tháo đường, suy giảm miễn dịch (nhiễm HIV)…
5. Vai trò của vắc-xin phòng ngừa HPVTiêm phòng vắc-xin HPV là biện pháp hữu hiệu để bảo vệ cơ thể chống lại các chủng HPV gây mụn cơm sinh dục cũng như các chủng HPV nguy cơ cao là nguyên nhân phổ biến nhất gây tiền ung thư, ung thư.
Theo khuyến cáo của Tổ chức Y tế Thế giới, độ tuổi lý tưởng để tiêm
vắc-xin HPV là tất cả trẻ em, nam nữ, từ 11 tuổi - 12 tuổi nhưng cũng có thể được bắt đầu từ 9 tuổi đến 25 tuổi. Theo CDC, dù vắc-xin ngừa HPV không được khuyến nghị sử dụng cho độ tuổi từ 26 trở lên nhưng nhóm độ tuổi từ 27 - 45 tuổi có nguy cơ nhiễm virus HPV nhưng chưa từng tiêm vắc-xin vẫn có thể hữu ích.
6. Sự khác nhau giữa xét nghiệm HPV và xét nghiệm PAP·
Xét nghiệm HPV có giá trị khác với xét nghiệm PAPXét nghiệm PAP, cho biết có hay không những tổn thương nghi ngờ hay ác tính trên
cổ tử cung.
Trong khi đó,
xét nghiệm HPV sẽ nói hiện tại có đang bị nhiễm HPV hay không, nếu có là nhóm nào: nguy cơ cao hay nguy cơ thấp. Như đã nói ở trên, nhiễm HPV không có nghĩa là
ung thư cổ tử cung, việc nhận định có nhiễm hay không có có nhiễm HPV không nói được tình trạng mô học hiện tại của cổ tử cung (bình thường, nghi ngờ hay ác tính). Một kết quả xét nghiệm HPV âm tính chỉ có thể nói hiện tại người được thử không có tình trạng nhiễm HPV, nhưng không nói được trước kia đã bị nhiễm chưa và nếu có, hiện nay, liệu tình trạng nhiễm này đã đưa đến
tổn thương cổ tử cung chưa.
Xét nghiệm HPV được sử dụng kèm với xét nghiệm PAP giúp nâng cao khả năng sàng lọc các trường hợp nghi ngờ, cũng như giúp quá trình theo dõi bệnh chặt chẽ hơn. Cho tới hiện nay, ngay tại các nước đã phát triển, vốn có một chương trình
tầm soát ung thư cổ tử cung rất hiệu quả, nhưng vẫn khuyến cáo sử dụng xét nghiệm HPV cùng với xét nghiệm PAP, đây vẫn là công cụ sàng lọc đại trà đầu tiên.
Hiện tại, Khoa Xét nghiệm
Bệnh viện Phụ sản tỉnh Nam Định đang thực hiện thường quy xét nghiệm gen
định type HPV có thể đồng thời phát hiện được tất cả các type trong nhóm nguy cơ thấp và nguy cơ cao phối hợp soi CTC và xét nghiệm PAP để đạt hiệu quả cao trong phát hiện sớm các tổn thương tiền ung thư, ung thư cổ tử cung.
NGUỒN: KHOA XÉT NGHIỆM