SÀNG LỌC UNG THƯ CỔ TỬ CUNG

 
SÀNG LỌC UNG THƯ CỔ TỬ CUNG
 
    Ung thư cổ tử cung (UTCTC) là một trong những bệnh ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ đặc biệt trong độ tuổi 30 trở lên. Theo dữ liệu từ thống kê GLOBOCAN, năm 2022 trên toàn thế giới có khoảng 662.000 phụ nữ mắc mới ung thư cổ tử cung và hơn 348.000 người chết do ung thư cổ tử cung, trong đó 80% trường hợp tử vong xảy ra ở các nước đang phát triển, với xu hướng tăng lên theo thời gian. Năm 2022, tại Việt Nam có 4.612 phụ nữ mắc ung thư cổ tử cung, tử vong 2.571 trường hợp.  
      Chuyên gia bệnh viện K khuyến cáo “Sàng lọc, phát hiện sớm ung thư là phương pháp tốt nhất giúp phát hiện những bất thường, dấu hiệu tiền ung thư, hoặc ung thư giai đoạn sớm, trước khi bệnh gây ra các triệu chứng và cơ hội điều trị thành công cao. Chị em phụ nữ nên đi khám phụ khoa định kỳ và làm xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung theo chỉ định của bác sỹ, cùng với tiêm phòng vắc xin cho trẻ em gái, đây là cách phòng tránh và phát hiện sớm nhất bệnh ung thư cổ tử cung”.

      I.Nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung

Nhiễm virus HPV gây nguy cơ ung thư cổ tử cung cao hơn
 
          Phần lớn các trường hợp UTCTC (trên 95%) có liên quan đến nhiễm virus HPV (Human Papilloma Virus), đặc biệt là các chủng nguy cơ cao như HPV 16 và HPV 18. Tổ chức Y tế thế giới phân chia các týp HPV sinh ung thư thành 4 nhóm như sau:
  • Nhóm 1: HPV 16, là nguyên nhân của khoảng 60% ung thư tế bào vảy CTC.
  • Nhóm 2: HPV 18, 45, lần lượt là nguyên nhân của 15% và 5% ung thư tế bào vảy CTC.
  • Nhóm 3: các týp nằm gần HPV 16 trong cây phả hệ, bao gồm HPV 33, 31, 52, 58 và 35, tính chung gây ra khoảng 15% ung thư tế bào vảy CTC.
  • Nhóm 4: nguy cơ thấp hơn, bao gồm HPV 39, 51, 59, 56 và 68, tính chung gây ra khoảng 5% ung thư tế bào vảy CTC.
  • Các yếu tố nguy cơ nhiễm HPV:
      + Quan hệ tình dục sớm,
      + Quan hệ tình dục với nhiều người,
      + Sinh nhiều con,
      + Vệ sinh sinh dục không đúng cách,
      + Viêm cổ tử cung mạn tính, nhiễm khuẩn LTQĐTD,
      + Điều kiện dinh dưỡng, kinh tế xã hội thấp,
      + Hút thuốc lá, đái tháo đường, suy giảm miễn dịch (nhiễm HIV)…

   II. Các phương pháp sàng lọc ung thư cổ tử cung
          Hiện nay có 4 phương pháp chính được sử dụng để sàng lọc UTCTC:
2.1.   Xét nghiệm Pap smear (phết tế bào cổ tử cung)
              Là phương pháp truyền thống, giúp phát hiện các thay đổi bất thường của tế bào cổ tử cung. Hiệu quả trong phát hiện tổn thương tiền ung thư.
2.2.  Xét nghiệm HPV DNA
        Phát hiện sự hiện diện của virus HPV nguy cơ cao. Phù hợp cho phụ nữ từ 30 tuổi trở lên, độ nhạy cao hơn xét nghiệm Pap smear.

  1. VIA (Visual Inspection with Acetic acid) – Quan sát CTC bằng acid acetic
          Dùng acid acetic 3–5% bôi vào cổ tử cung và quan sát bằng mắt thường những thay đổi bất thường.
  1. VILI (Visual Inspection with Lugol’s Iodine) – Quan sát CTC bằng Lugol
          Dùng dung dịch Lugol bôi vào cổ tử cung và quan sát bằng mắt thường những thay đổi bất thường.
  1. Khi nào nên tầm soát ung thư cổ tử cung?
          Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (ACCS) và Cơ quan Y tế Dự phòng Hoa kỳ (USPSTF), độ tuổi được khuyến nghị thực hiện sàng lọc ung thư cổ tử cung gồm:
  1. Từ 21 đến 29 tuổi
          Việc thực hiện tầm soát sớm ung thư cổ tử cung ở độ tuổi 21 đến 29, USPSTF khuyến nghị sử dụng phương pháp xét nghiệm Pap đầu tiên ở tuổi 21, sau đó xét nghiệm lại sau mỗi 3 năm.
  1. Độ tuổi 30 đến 65
          Từ 30 – 65 tuổi, USPSTF khuyên bạn nên khám tầm soát ung thư cổ tử cung bằng một trong các phương pháp sau:
  • Xét nghiệm HPV 5 năm một lần: nếu kết quả bình thường, bạn có thể đợi 5 năm để kiểm tra sàng lọc ung thư cổ tử cung cho lần tiếp theo.
  • Kiểm tra HPV kết hợp với làm Pap 5 năm một lần: nếu cả 2 kết quả đều bình thường, bạn có thể thực hiện đợt xét nghiệm sàng lọc tiếp theo sau 5 năm.
  • Xét nghiệm PAP 3 năm một lần: nếu kết quả bình thường, bạn sẽ chờ 3 năm để thực hiện đợt kiểm tra Pap tiếp theo.
          Theo các hướng dẫn sàng lọc mới nhất được cập nhật, bạn nên thực hiện xét nghiệm HPV ở tuổi 25 và tiến hành xét nghiệm lại cách 5 năm/lần cho đến năm 65 tuổi. Tuy nhiên, bạn cũng có thể tiến hành khám sàng lọc ung thư theo tình trạng sức khỏe và hướng dẫn của bác sĩ.
  1.  Trên 65 tuổi
          Sau 65 tuổi có thể dừng sàng lọc nếu có 2 lần sàng lọc liên tiếp đúng chu kỳ trước đó âm tính.
  1. Quy trình sàng lọc ung thư cổ tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Nam Định
    1.  Bước 1: Khám phụ khoa
          Bạn sẽ gặp trực tiếp các bác sĩ sản phụ khoa để trao đổi, nêu những dấu hiệu bất thường (nếu có) để các bác sĩ chỉ định xét nghiệm phù hợp.
  1. Bước 2: Xét nghiệm
          Dựa trên chỉ định của bác sĩ, bạn tiến hành thực hiện các xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung như Pap Smear, Liqui-prep, hoặc đồng kiểm tra Pap Smear và HPV, Liqui-prep và HPV.
  1. Bước 3: Trả kết quả xét nghiệm
               Sau khi nhận các kết quả chỉ số xét nghiệm tế bào cổ tử cung, bác sĩ sẽ chẩn đoán tình trạng và tư vấn phòng ngừa/điều trị.
               Hiện nay, với sự hỗ trợ từ các máy móc, trang thiết bị hiện đại, kết quả tầm soát ung thư cổ tử cung bằng xét nghiệm HPV sẽ có sau 7-10 ngày thực hiện lấy mẫu tế bào. Kết quả xét nghiệm sẽ được Bệnh viện Phụ sản Nam Định thông báo đến bạn qua điện thoại và gửi về tận nhà, giúp bạn không phải chờ quá lâu cũng như di chuyển nhiều.